Chào mừng quý vị đến với Chắp cánh ước mơ.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Toán 1-Phan Hữu Đoàn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Đức Cảnh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:30' 18-04-2009
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Vũ Đức Cảnh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:30' 18-04-2009
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
I.mở đầu
Ta đều biết rằng: Vật chất trong tự nhiên luôn biến đổi. Chiếc xe, hòn đá di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, các chất có thể thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái kia ( rắn, lỏng, khí...) hoặc có thể hoá hợp với nhau tạo thành những hợp chất mới, cây cỏ, súc vật và cả con người cũng luôn luôn phát triển. Nói cách khác vật chất trong tự nhiên luôn luôn chuyển động.
Các ngành khoa học như vật lí học, hoá học, sinh học đều nghiên cứu các dạng vận động của vật chất. Trong đó vật lí học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản nhất của vật chất và cũng là môn học đã trưởng thành, có ảnh hưởng lớn đến các nghành khoa học kỹ thuật, phục vụ đắc lực cho lợi ích của con người.
Có thể nói rằng: Vật lí học là cơ sở của lí thuyết của kĩ thuật, mỗi bước phát triển mới của kĩ thuật đều gắn liền với những thành tựu của vật lí học. Nguyên tắc đòn bẩy của ácsimét đã mở màn cho kĩ thuật chế tạo các máy học, trên cơ sở nghiên cứu nhiệt học, các động cơ nhiệt ra đời đã mở đầu cho nền công nghiệp cơ khí hoá.
Những thành tựu vĩ đại của con người trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật hiện nay như: sử dụng năng lượng hạt nhân, đưa con người đổ bộ xuống mặt trăng, bay trong vũ trụ... đều phải dựa trên cơ sở vật lí học.
Theo tiếng Hy Lạp, danh tự “Vật lí học” chính là “tự nhiên học”. Đó chính là phương pháp nghiên cứu vật lí chủ yếu quan sát các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và trong các thí nghiệm. Từ đó rút ra các qui luật khách quan vận dụng các qui luật đó vào mục đích lợi ích của con người, hay một Quốc gia về vật lí học. Bác Hồ của chúng ta đã nói “...Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công lao học tập của các em...”.
Đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta có vị thế trong thế giới này ngoài những thế mạnh vốn có, còn có sự đóng góp tích cực của trí tuệ trẻ Việt Nam trong đó đáng kể nhất các cuộc thi Olimpic vật lí Quốc tế.
Trong bài này tôi không đề cập đến vấn đề dạy như thế nào? học như thế nào để có thể trở thành nhà nghiên cứu vật lí học trong tương lai. ở đây tôi bàn đến vấn đến vấn đề hướng dẫn và một số nhầm lẫn thương gặp khi giải bài tập vật lí của học sinh ở trường THCS vì nó góp phần một nền tảng vững chắc cho các em yêu thích bộ môn học này.
II.Lý do chọn đề tài
Ngày nay: Vật lí học đã phát triển cao, phương pháp suy luận bằng lí thuyết trừu tượng đã sử dụng đắc lực trong việc nghiên cứu vật lí học, khi đó ta không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của việc giải bài tập vật lí học. Nhưng ở cấp học THCS phương pháp thực nghiệm cón giữ vai trò quan trọng. Chính sự phân bố không đồng đều giữa lý thuyết và bài tập (thực hành)nên nhiều học sinh hiểu biết về các sự vật hiện tượng , các định luật , quy luật... của vật lí học là đáng kể, nhưng khi đòi hỏi yêu cầu trình bàymột
Ta đều biết rằng: Vật chất trong tự nhiên luôn biến đổi. Chiếc xe, hòn đá di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, các chất có thể thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái kia ( rắn, lỏng, khí...) hoặc có thể hoá hợp với nhau tạo thành những hợp chất mới, cây cỏ, súc vật và cả con người cũng luôn luôn phát triển. Nói cách khác vật chất trong tự nhiên luôn luôn chuyển động.
Các ngành khoa học như vật lí học, hoá học, sinh học đều nghiên cứu các dạng vận động của vật chất. Trong đó vật lí học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản nhất của vật chất và cũng là môn học đã trưởng thành, có ảnh hưởng lớn đến các nghành khoa học kỹ thuật, phục vụ đắc lực cho lợi ích của con người.
Có thể nói rằng: Vật lí học là cơ sở của lí thuyết của kĩ thuật, mỗi bước phát triển mới của kĩ thuật đều gắn liền với những thành tựu của vật lí học. Nguyên tắc đòn bẩy của ácsimét đã mở màn cho kĩ thuật chế tạo các máy học, trên cơ sở nghiên cứu nhiệt học, các động cơ nhiệt ra đời đã mở đầu cho nền công nghiệp cơ khí hoá.
Những thành tựu vĩ đại của con người trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật hiện nay như: sử dụng năng lượng hạt nhân, đưa con người đổ bộ xuống mặt trăng, bay trong vũ trụ... đều phải dựa trên cơ sở vật lí học.
Theo tiếng Hy Lạp, danh tự “Vật lí học” chính là “tự nhiên học”. Đó chính là phương pháp nghiên cứu vật lí chủ yếu quan sát các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và trong các thí nghiệm. Từ đó rút ra các qui luật khách quan vận dụng các qui luật đó vào mục đích lợi ích của con người, hay một Quốc gia về vật lí học. Bác Hồ của chúng ta đã nói “...Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công lao học tập của các em...”.
Đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta có vị thế trong thế giới này ngoài những thế mạnh vốn có, còn có sự đóng góp tích cực của trí tuệ trẻ Việt Nam trong đó đáng kể nhất các cuộc thi Olimpic vật lí Quốc tế.
Trong bài này tôi không đề cập đến vấn đề dạy như thế nào? học như thế nào để có thể trở thành nhà nghiên cứu vật lí học trong tương lai. ở đây tôi bàn đến vấn đến vấn đề hướng dẫn và một số nhầm lẫn thương gặp khi giải bài tập vật lí của học sinh ở trường THCS vì nó góp phần một nền tảng vững chắc cho các em yêu thích bộ môn học này.
II.Lý do chọn đề tài
Ngày nay: Vật lí học đã phát triển cao, phương pháp suy luận bằng lí thuyết trừu tượng đã sử dụng đắc lực trong việc nghiên cứu vật lí học, khi đó ta không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của việc giải bài tập vật lí học. Nhưng ở cấp học THCS phương pháp thực nghiệm cón giữ vai trò quan trọng. Chính sự phân bố không đồng đều giữa lý thuyết và bài tập (thực hành)nên nhiều học sinh hiểu biết về các sự vật hiện tượng , các định luật , quy luật... của vật lí học là đáng kể, nhưng khi đòi hỏi yêu cầu trình bàymột
 






Các ý kiến mới nhất